Nhung huou tuoi call 0975538270

Thảo luận trong 'Món ăn, Ẩm Thực HCM, Hà Nội' bắt đầu bởi nhunghuou, 23 Tháng mười một 2009.

  1. nhunghuou New Member

    MOi chi tiet ve nhung huou vui long call 0975538270 hoac ban muon biet ve tac dung khac vui long vao website:http://nhunghuou.very.to
    :cl:

    Cách sử dụng nhung hươu tươi:
    Cách 1: Nhung hươu tươi cắt lát mỏng nấu với cháo trắng ngày ăn 1 lần, mỗi lần khoảng10gr.(Nấu cháo trước, bỏ nhung hươu sau, khi nhung hươu chín mềm là được)
    Cách 2: Nhung hươu tươi cắt lát mỏng, xay nhỏ ngâm với mật ong (100gr nhung ngâm với khoảng 0,25 lít mật ong tốt) sau 1 tháng ăn mỗi ngày 1 lần khoảng 30ml. (Chú ý mật ong mới tốt)
    Cách 3: Nhung hươu tươi thái hoặc chẻ mỏng ra ngâm với rượu gạo nếp trên 45 độ (100gr nhung hươu tươi ngâm với 0,65 lít rượu gạo nếp) sau 1 tháng uống mỗi ngày 1- 2 lần mỗi lần khoảng 20ml. (Hoặc để cả cặp nhung hươu ngâm rượu cho đẹp nhưng thời gian ngâm là 6 tháng mới dùng được)
    Cách sử dụng nhung hươu khô:
    Cách 4: Nhung hươu sấy khô. Cắt lát sao khô dòn, xay nhỏ nấu với cháo trắng, ngày ăn 1 lần, mỗi lần khoảng 5-10gr. (cháo gần chín mới bỏ nhung hươu).
    Cách 5: Nhung hươu khô thái hoặc chẻ ra ngâm với rượu ngon (100gr nhung hươu khô ngâm với 1- 1,5 lít rượu) sau 1 tháng uống mỗi ngày 1- 2 lần mỗi lần khoảng 20ml

    Cách Bảo Quản

    - (Để ngăn đá lạnh đối với nhung hươu tươi)
    . Để nhung hươu cẩn thận tránh ẩm, mốc, hỏng nhung hươu (đối với nhung hươu khô)

    Tác dụngcủa nhung hươu
    -Dùng nhung hươu bồi bổ sức khoẻ, Phòng và chữa bệnh hàng đầu cho con người.
    - Nhung hươu có tác dụng làm tăng sức mạnh toàn thân, tăng sự hoạt động của cơ thể, Nâng cao thể lực, làm giảm hiện tượng mệt mỏi và lao lực, hạn chế bệnh tật, phòng bệnh tốt nhất.
    -Chữa suy nhược thần kinh, huyết áp giảm, duy tinh, mồ hôi chộm, đau khớp xương, làm vết thương mau lành. Chữa mụn nhọt, bệnh phụ nữ khí hư, bạch đới. Bổ dương, khoẻ sinh lý.
    -Người dùng nhung hươu thấy tinh thần sảng khoái, cơ thể cường tráng, khoẻ mạnh, mịn da, ăn ngon, ngủ tốt hơn, chóng lên cân.
    -Nhung hươu rất bổ cho người gầy yếu nhất là đối với người già, đối với trẻ em nhung hươu làm cho cơ thể cứng cáp, chóng lớn, chóng biết đi. Đặc biệt là trẻ em chậm lớn, còi cọc, yếu ớt.
    -Người có bệnh đau dạ dầy, duột, người mắc phải ốm, phụ nữ có thai dùng cũng tốt.
    -Nhung hươu có ảnh hưởng tốt đến việc trao đổi chất đạm và mỡ.
    -Nhung hươu dùng được và dùng tốt trong mọi lưá tuôi Từ người già đến trẻ em
    -Người dùng nhung hươu thấy tinh thần sảng khoái, cơ thể cường tráng, khỏe mạnh, tráng dương, mịn da, ăn ngon, ngủ tốt hơn, chóng lên cân.

    Chất Nhung Nai có tác dụng tốt cho cả Nữ và Nam:
    Tốt Cho Nữ:
    •Làn da mịn màn, hồng hào, tươi tốt
    •Chống rụng tóc, móng tay bị gãy, nứt
    •Kinh nguyệt đều đặn, cơ thể khỏe khoắn, tinh thần minh mẫn
    •Giúp bồi dưỡng chất calcium, làm xương chắc, chống bị gãy khi về già
    •Giúp cơ thể thon thả, cân đối, săn chắc
    •Tốt cho phụ nữ sau khi sanh đẻ
    Tốt Cho Nam:
    •Chống rụng tóc
    •Bổ thận
    •Bổ gan
    •Chống tay chân bị lạnh
    •Chống già
    •Máu huyết tuần hoàn
    Bài thuốc có lộc nhung
    Chữa liệt dương, đái rắt, sắc mặt đen sạm: Nhung 40g, cạo sạch lông, thái mỏng, hoài sơn 48g, giã nát cả hai vị trộn đều cho vào một túi vải, ngâm vào 1 lít rượu trong 7 ngày. Người lớn ngày uống 10-20ml. Khi hết rượu, lấy bã còn lại làm thành viên mà uống.
    Chữa các triệu chứng tinh huyết khô kiệt, tai điếc, miệng khát, lưng đau, đi tiểu ra dưỡng chấp: Nhung 40g, đương quy 40g, cả hai vị sao khô tán bột. Lấy thịt quả ô mai nấu thành cao, trộn với bột trên làm thành viên bằng hạt ngô. Người lớn ngày uống 50 viên, chia làm 2-3 lần uống với nước cơm còn ấm.
    SAU ĐÂY LÀ MỘT SỐ CÁC LOẠI RƯỢU ĐƯỢC NGÂM TỪ NHUNG HƯƠU
    Trong dược học cổ truyền, rượu thuốc bổ dương (bổ dương dược tửu hay trợ dương dược tửu) là một lĩnh vực hết sức phong phú và độc đáo. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin giới thiệu một vài loại RƯỢU BỔ DƯƠNG đơn giản và thông dụng nhằm giúp các “đấng mày râu” có thêm một vũ khí để phòng và chống các trục trặc không mong muốn trong đời sống tình dục như bất lực, xuất tinh sớm, di tinh, giảm sút ham muốn sinh hoạt vợ chồng...
    NHUNG HƯƠU TỬU(rượu)
    Thành phần: Nhung hươu 30g, kỷ tử 30g, rượu trắng 1.000ml. Cách chế: Nhung hươu thái vụn đem ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7-10 ngày là có thể dùng được. Công dụng: Tráng dương tư âm, dùng cho những người mắc chứng bất lực, khó thụ thai do chất lượng và số lượng tinh trùng suy giảm, giảm sút ham muốn và khoái cảm tình dục. Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 10-20ml.
    Theo quan niệm của y học cổ truyền, phần lớn các rối loạn sinh lý nêu trên đều thuộc thể dương hư, biểu hiện bằng các triệu chứng như mệt mỏi, sắc mặt nhợt nhạt, dễ đổ mồ hôi, tay chân lạnh, sợ lạnh, tinh dịch lạnh lẽo, lưng đau gối mỏi, hay vã mồ hôi lạnh khi sinh hoạt tình dục... Nhung hươu vị ngọt mặn, tính ấm nóng, có công năng đại bổ nguyên dương, sinh tinh cường cân nên có đủ khả năng giải quyết các chứng trạng này. Kỷ tử vị ngọt, tính mát, có công dụng dưỡng âm nhuận táo, bổ can ích thận, dùng phối hợp nhằm mục đích tăng cường công năng bổ dưỡng và điều hòa bớt tính nhiệt táo của nhung hươu, khiến cho loại rượu này vừa bổ dương lại vừa dưỡng âm, có thể sử dụng rộng rãi cho mọi đối tượng.

    DÂM DƯƠNG HOẮC NHỤC DUNG TỬU
    Thành phần: Dâm dương hoắc 100g, nhục dung 50g, rượu trắng 1.000ml. Cách chế: Hai thứ thái vụn rồi đem ngâm với rượu, sau chừng 7-10 ngày là có thể dùng được. Công dụng: Bổ thận tráng dương, cường gân kiện cốt, khu phong trừ thấp, dùng cho người bị suy giảm khả năng tình dục, di tinh, liệt dương, muộn con, đau lưng, viêm khớp... Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần từ 15-20ml.
    Kinh nghiệm dùng rượu dâm dương hoắc hay còn gọi là rượu tiên linh tỳ để bổ dương cường tinh đã được lưu truyền từ lâu trong dân gian. Loại rượu này cũng đã được ghi nhận trong y thư cổ Thọ thế bảo nguyên và Nhật hoa tử bản thảo. Theo dược học cổ truyền, cả hai vị dâm dương hoắc và nhục dung đều có tác dụng bổ thận tráng dương. Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài công năng cải thiện hệ thống miễn dịch, có lợi cho tim mạch và chống lão hóa, cả hai vị này còn có khả năng thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục và nâng cao năng lực hoạt động của tuyến sinh dục. Loại rượu này có mùi vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn, công hiệu rõ ràng nên được nhiều người ưa dùng.
    ANH HÙNG TỬU
    Thành phần: Sơn thù 15g, cẩu tích 15g, đương quy 15g, kỷ tử 15g, thỏ ty tử 15g, nhân sâm 15g, mạch môn 30g, tắc kè 1 đôi, rượu trắng 2.000ml. Cách chế: Các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong bình kín, sau 3 tuần có thể dùng được. Công dụng: Uống mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 chén nhỏ.
    Đây là loại rượu thuốc bổ dương cường tinh được lưu truyền lâu đời trong dân gian. Trong đó nhân sâm đại bổ nguyên khí; Đương quy và kỷ tử bổ huyết; Mạch môn bổ âm, sơn thù, cẩu tích, thỏ ty tử và tắc kè bổ thận dương. Tám vị phối hợp cân đối với nhau vừa bổ khí huyết vừa bổ âm dương, đặc biệt là thận dương nên công năng trợ dương cường tinh là rất tốt. Theo dân gian, Anh hùng tửu có tác dụng trị 9 chứng xấu của “cánh mày râu”, đó là: dương đạo suy yếu, yếu đuối không phấn chấn được, phấn chấn được mà không đủ, đủ mà không thực, thực mà không cứng, cứng mà không tuân theo, tuân theo mà không được lâu, lâu mà không có tinh, có tinh mà không có con.
    TRƯỜNG SINH BẤT LÃO TỬU
    Thành phần: Thỏ ty tử 15g, nhục dung 15g, ngưu tất 5g, đỗ trọng 15g, sơn thù 15g, ngũ vị tử 5g, kỷ tử 15g, nhân sâm 5g, xạ tiền tử 5g, bạch linh 15g, mạch môn 5g, xương bồ 5g, sinh địa 5g, sà sàng tử 5g, nữ trinh tử 15g, tỏa dương 15g, long nhãn 30g, đại táo 120g, cam thảo 3g, nhục quế 2g, rượu trắng 2.000ml. Cách chế: Các vị thuốc thái vụn, phun rượu cho ướt đều rồi đem chưng cách thủy trong 30 phút, sau đó phơi nắng cho khô, cho tất cả vào lọ ngâm với rượu, sau 2-3 tháng là có thể dùng được. Công dụng: Bổ thận trợ dương. Cách dùng: Uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 10-20ml.
    Theo kinh nghiệm của cổ nhân, đây là loại rượu có tác dụng “Vạn năng”, uống sau 3 giờ sẽ thấy hiệu quả cụ thể, uống được 1 tuần sẽ thấy được sự kỳ diệu của tinh lực người xưa(?). Có được công năng này là vì trong thành phần của nó chủ yếu là các vị thuốc có công dụng bổ thận trợ dương như thỏ ty tử, nhục dung, ngưu tất, đỗ trọng, nữ trinh tử, tỏa dương. Thêm vào đó là các vị thuốc có tác dụng bổ khí như nhân sâm và đại táo, bổ âm như mạch môn và ngũ vị tử, bổ huyết như sinh địa và long nhãn, bổ mệnh môn hỏa như nhục quế và sà sàng tử. Tất cả các vị thuốc phối hợp tương hỗ với nhau tạo nên công dụng trợ dương rất đặc sắc của Trường xuân bất lão tửu.
    HIÊN KHẨU NHẤT BÔI TỬU
    Thành phần: Nhân sâm 24g, thục địa 15g, kỷ tử 15g, dâm dương hoắc 9g, viễn chí 9g, đinh hương 9g, trầm hương 3g, bạch tật lê 9g, lệ chi nhục 7g, rượu trắng 1.000ml. Cách chế: Các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong bình kín, sau chừng 7-10 ngày là có thể dùng được. Công dụng: Bổ thận tráng dương, sinh tinh dưỡng huyết, ích khí định thần, làm đen râu tóc và kéo dài tuổi thọ. Cách dùng: Uống mỗi ngày 1 chén nhỏ, uống nhấp môi từ từ từng ít một, nói như cổ nhân là phải uống nghìn lần mới hết một chén rượu (thiên khẩu nhất bôi).
    Loại rượu này được lấy từ y thư cổ Tập nghiệm lương phương, đặc biệt thích hợp cho lứa tuổi trung lão niên mà thận khí đã suy yếu, khí huyết suy nhược, tinh lực giảm thoái, khả năng sinh hoạt tình dục giảm sút. Trong thành phần, cổ nhân đã khéo léo phối hợp các vị thuốc có tác dụng bổ khí như nhân sâm, bổ huyết và bổ âm như thục địa và kỷ tử, bổ dương như dâm dương hoắc và bạch tật lê với các vị thuốc có công năng làm ấm tỳ vị và thận như đinh hương, trầm hương nhằm mục đích “Dĩ âm hàn tân ôn chi phẩm phối ngũ, lương nhi bất nê, ôn nhi bất táo, tương hỗ chế ước, âm dương hiệp điều, phục chi năng sử tinh thần hoán phát, dương nuy lập khởi, diên niên ích thọ” (Lấy các vị thuốc âm, lạnh, cay, ấm phối hợp với nhau, mát mà không nê trệ, ấm mà không táo nhiệt, tác động tương hỗ chế ước lẫn nhau mà làm cho tinh thần phấn chấn, chữa được chứng liệt dương, kéo dài tuổi thọ).

    Thống kê cho thấy, tình trạng thiếu máu được cải thiện trên đại đa số bệnh nhân khi sử dụng nhung nai, chứng minh kinh nghiệm của y học cổ truyền trong việc giải quyết tình trạng thiếu máu do suy tủy xương. Các hoạt chất sinh học trong nhung nai đã kích thích tủy xương bị suy yếu vì nhiễm độc, hóa chất... tái hoạt động sản xuất hồng cầu một cách nhanh chóng (chỉ trong 10 ngày).Trong y học hiện đại, để giải quyết tình trạng này cũng có thuốc kích thích tạo hồng cầu nhưng rất đắt tiền, lại phải nhập ngoại tốn nhiều ngoại tệ. Còn nhung nai là nguyên liệu có sẵn trong nước, dễ tìm, bào chế đơn giản, rẻ tiền, phù hợp cho bệnh nhân có thu nhập thấp. Hơn thế nữa, nhung nai ngoài tác dụng bổ máu được nghiên cứu trong đề tài này còn là một vị thuốc bổ cao cấp có nhiều tác dụng quý giá khác.
    Người ta sử dụng nhung chữa suy nhược thần kinh, hen suyễn, di tinh, ù tai, đau đối, đau lưng, băng huyết, rong kinh, bạch đới, mọi trường hợp hư tổn trong cơ thể, đặc biệt là chứng thiếu máu.
    Nhung thường dùng dưới dạng bột, viên hay ngâm rượu với liều dùng (để uống) 1 - 3g bột/ngày, chia 2 - 3 lần. Tinh chất nhung được pha chế thành rượu hoặc viên gọi là Pantocrin, dùng 2 - 4 viên/ngày trước khi ăn, chia 2 - 3 lần, dùng trong 15 - 30 ngày. Tác dụng rõ rệt trên lâm sàng ngay sau khi dùng 7 ngày.
    Người Nhật Bản cũng dùng lộc nhung dưới dạng viên, có tên là Rulodin để điều trị rối loạn về sinh lý ở nam giới. Người dùng nhung nai thấy sảng khoái khỏe mạnh, ăn nhiều, ngủ tốt, tăng hồng cầu. Tuy nhiên, không được dùng nhung trong những trường hợp bị cao huyết áp, tiểu đường, xơ cứng mạch máu.
    Theo Thế giới Phụ nữ


    Tên khác: Vị thuốc Nhung hươu còn gọi Ban long châu (Đạm Liêu Phương), Hoàng mao nhung, Huyết nhung, Quan lộc nhung (Đông Dược Học Thiết Yếu),

    Tác dụng chủ trị:

    + Ích khí, cường khí, sinh xỉ, bất lão, Chủ lậu hạ ác huyết, hàn nhiệt kinh giản (Bản kinh).
    + Dưỡng cốt, an thai, uống lâu kéo dài tuổi thọ.Trị hư lao, sốt rét, gầy ốm, tay chân đau, lưng và thắt lưng đau, tiết tinh, huyết suy, bụng có bướu máu, tán sỏi đường tiểu, ung nhọt, nóng trong xương (Danh Y Biệt Lục).
    + Bổ cho nam giới bị lưng lạnh, chân và gối không có sức, mộng tinh, tiết tinh, phụ nữ bị băng trung lậu huyết [nướng lên uống với rượu, lúc đói] (Dược Tính Luận). +Bổ hư, tráng gân cốt, phá ứ huyết, an thai, hạ khí [nướng với dấm để dùng] (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
    + Sinh tinh, bổ tủy, dưỡng huyết, ích dương, làm mạnh gân xương. Trị hư tổn, tai ù, mắt mờ, chóng mặt, hư lỵ... Toàn thân con hươu đều bổ dưỡng cho con người (Bản Thảo Cương Mục).
    + Trị trẻ nhỏ bị đậu trắng nhạt, nước đậu không vỡ, tiêu chảy, người gìa Tỳ Vị hư hàn, mệnh môn không có hỏa hoặc ăn uống thất thường (Bản Thảo Sơ Yếu).
    + Tráng nguyên dương, bổ khí huyết, ích tinh tủy, cường gân cốt. Trị hư lao, gầy ốm, tinh thần mê muội, chóng mặt, tai ù, mắt mờ, lưng gối đau, liệt dương, hoạt tinh, tử cung hư lạnh, băng lậu, đái hạ (Trung Dược Đại Từ Điển). Đơn thuốc kinh nghiệm:
    + Trị tinh huyết suy kiệt, sắc mặt đen sạm, tai ù, mắt hoa, miệng khô, khát, lưng đau, gối mỏi, tiểu đục, trên táo dưới hàn: Lộc nhung, Đương quy (đều tẩy rượu). Lượng bằng nhau, tán bột. Dùng thịt Ô mai nấu thành cao, trộn thuốc bột làm hoàn. Ngày uống 8-12g lúc đói với nước cơm (Hắc Hoàn - Tế Sinh Phương). + Trị tinh huyết đều khô, doanh vệ hao tổn, sốt về chiều, tự ra mồ hôi, hồi hộp, lo sợ, chân tay mỏi, các loại hư yếu: Lộc nhung
    + Trị hư yếu, liệt dương, da mặt không tươi, tiểu nhiều, không muốn ăn uống:
    + Trị Thận dương bất túc, tinh khí hao tổn gây nên liệt dương, di tinh, hoạt tinh, tiết tinh, lưng đau, gối mỏi, đầu váng, tai ù: nhung, Nhân sâm, Thục địa, Câu kỷ tử, Phụ tử. Làm thành hoàn, uống (Sâm Nhung Vệ Sinh Hoàn - Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
    + Trị phụ nữ bị băng lậu, vô sinh do dương hỏa suy: nhung 40g,
    + Trị phụ nữ bị băng lậu: Lộc nhung 1g,
    + Trị liệt dương, tiểu nhiều: nhung, Liều dùng: Lộc nhung không cho vào thuốc sắc, chỉ tán nhỏ, hòa uống riêng từ 1,2 - 4g. Kiêng kỵ:
    + Bỗng nhiên bị tê dại, không dùng
    + Thận hư có hỏa: không nên dùng.
    + Người âm hư hỏa vượng: không dùng
    TÌM HIỂU SÂU THÊM VỀ NHUNG HƯƠU Tên khoa học: Cornus cervi Parvum. Họ Cervidae
    Mô tả:
    Nhung hươu đực (Lộc) Hai loại hươu ngành động vật có xương sống sừng non khi mới mọc dài 10-25 cm,mềm. Mặt ngoài phủ đầy lông tơ mầu nâu nhạt, trong chứa rất nhiều mạch máu. Sừng non mềm và sờ mịn Thu 1: Chỉ có hươu đực mới có sừng. Từ 2 tuổi trở đi, hươu nai đực bắt đầu có sừng nhưng phải từ 3 tuổi trở đi sừng hoặc nhung mới tốt và mới thu hoạch được . Hàng năm vào cuối mùa hạ, sừng hươu cũ sẽ rụng đi (nếu không được thu hoạch )và vào mùa xuân năm sau sẽ mọc lại sừng khác.
    * Có loại hươu cho 2 lần đến 3 lần nhung 1 năm. Lần cắt nhung thứ nhất tiến hành 40 - 50 ngày sau tiết thanh minh (khoảng tháng 2-3 âm lịch). Lần thứ 2 khoảng 50 - 60 ngày sau lần cắt thứ nhất ( trước hoặc sau ngày lập thu - tháng 5-6). Phần dùng làm thuốc: Cách cắt lấy nhung từ hươu : + Dùng dây gậy vào chân sau của hươu, thuê người vào bắt và hạ hươu xuống sàn. Dùng cưa, cưa vào gần sát đế sừng. sau đó, lấy dây buộc phần đầu cưa lại(cấm máu cho Hươu) Phân nhung sau khi cắt phơi hoặc sấy khô(nếu không có khách mua . Sấy ở nhiệt độ 70-80oC trong vòng 2-3 giờ rồi lấy ra. Làm như vậy 2-3 lần cho thật khô là được + Đốt cháy lông tơ, lấy mảnh thủy tinh cạo sạch rồi tẩm rượu nóng cho mềm, thái thành từng phiến, phơi khô để dùng + Cưa lấy nhung từ chỗ cách đế nhung 3cm.Cách Khi ngâm chú ý để chỗ cắt lên trên cho chất tốt trong nhung không ra hết vào rượu. Hôm sau, rang cát cho vừa, đổ vào 1 cái ống, ở giữa để cặp nhung (Khi cát nguội lại đổ ra thay cát mới rang vào. Mỗi lần thay cát lại nhúng nhung vào rượu cho rượu thấm vào. Làm như vậy cho đến khi sừng khô. Cất đi để dùng. Hoặc chỉ tẩm rượu vào nhung rồi sấy khô. + Hiện nay sau khi thu hoạch phòng khám chúng tôi bảo quản lạnh ở nhiệt độ -25 độ C chất lượng đảm bảo hơn các cánh chế biến như trên rất nhiều Tác dụng của nhung hươu Nhung Hươu có tác dụng tốt đối với toàn thân, nâng cao năng lượng công tác, giúp ăn ngủ ngon, bớt mệt mỏi, làm nhanh lành các vết thương, tăng sức lợi niệu, tăng nhu động ruột và bao tử, ảnh hưởng tốt.
    . Liều lượng khác nhau của Lộc nhung có tác dụng khác nhau đối với mạch máu tim: liều cao gây hạ huyết áp, biên độ co bóp của tim tăng, tim đập nhanh, lượng huyết do tim phát ra cũng tăng lên .
    1- Tác Dụng Đối Với Tim Mạch: Theo loại nhung của Tây bá lợi á, lấy ra chất ‘Nhung hươuTinh’ (pantocrinum), dùng liều cao có thể làm hạ huyết áp, tăng lưu lượng máu động mạch vành của tim chuột lớn cô lập, tim co bóp mạnh hơn, nhịp tim chậm lại, làm cường tim. Trên thực nghiệm còn thấy có tác dụng phòng trị nhịp tim không đều, tăng nhanh sự hồi phục huyết áp thấp do mất máu cấp (Trung Dược Đại Từ Điển).
    2- Tác Dụng Cường Tráng: Nhung Hươu có tác dụng như kích thích tố sinh dục, làm tăng nhanh thể trọng và chiều cao của chuột bạch thí nghiệm và tử cung của chuột cái phát triển, tăng nhanh sự hồi phục của xương và làm vết thương chóng lành (Trung Dược Đại Từ Điển). 3- Tác Dụng Chống Loét: Chất Polysacaride của nhung hươu có tác dụng chống loét rõ đối với mô hình gây loét bằng Acid Acetic hoặc thắt môn vị (Trung Dược Đại Từ Điển). 4- Tác Dụng: nhung Hươu có tác dụng cường tráng, chống mỏi mệt, nâng cao hiệu quả công tác, cải thiện giấc ngủ, kích thích tiêu hóa, cải thiện trạng thái suy dinh dưỡng và rối lọan chuyển hóa đạm, cải thiện trạng thái chuyển hóa năng lượng thấp, làm cho chuột chịu đựng tốt hơn ở môi trường nhiệt độ cao hoặc nhạt độ thấp. Nâng cao tính miễn dịch của cơ thể, làm tăng hồng cầu, huyết sắc tố và sự tăng sinh của tế bào lưới hồng cầu, tăng bạch cầu (Trung Dược Học). Tính vị: + Vị ngọt, tính ôn (Bản Kinh). + Vị chua, tính hơi ôn, không độc (Danh Y Biệt Lục). + Vị ngọt, mặn, tính ôn, không độc (Bản Thảo Mông Thuyên). + Vị ngọt, tính ôn (Trung Dược Học). + Vị ngọt, mặn, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu). + Vị ngọt, tính ôn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). Quy kinh: + Vào kinh Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải). + Vào kinh thủ quyết âm (Tâm bào), Thủ thiếu âm (Tâm), Túc thiếu âm (Thận), Túc quyết âm [Can] (Bản Thảo Kinh Sơ). + Vào kinh Thận, Can, Tâm và Tâm Bào (Đông Dược Học Thiết Yếu). + Vào kinh Can, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển). + Vào kinh Can, Thân, Tâm, Tâm bào (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). Tác dụng: + Trị tủy hư yếu, chân tay mềm, xương mềm, trẻ nhỏ phát dục kém, châm mọc răng, chậm biết đi: + Trị tiêu chảy do Thận hư: + Trị liệt dương: + Trị rốí loạn dẫn truyền nhĩ thất: Thái Tố Nhân dùng nhung + Dùng Lộc nhung trị xương gẫy giúp cho xương mau liền. Trường hợp mụn nhọt lở loét, dùng Lộc nhung có tác dụng làm lành chỗ loét (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

    Nhung hươu thường được sử dụng trong các trường hợp sau:
    - Trẻ em suy dinh dưỡng, chậm lớn, chậm phát triển về trí tuệ và thể lực.
    - Đàn ông thiếu tinh trùng, bất lực về sinh lý, hoạt tinh, mệt mỏi, váng đầu, ù tai, hoa mắt, lạnh tứ chi.
    - Đàn bà hiếm muộn do lạnh tử cung, thận suy, đau lưng, hồi hộp do tâm nhược, tiểu tiện khó; bạch đới, xuất huyết tử cung.
    Một số bài thuốc hay
    - Thận hư, di tinh, liệt dương: Huyết nhung 60 g; câu kỷ tử, hoài sơn, đỗ trọng bắc, mạch môn đông, hoài ngưu tất, sơn thù nhục, thỏ ti tử mỗi thứ 120 g; ngũ vị tử 30 g, thục địa 240 g. Tất cả tán thành bột mịn, luyện với mật ong và làm thành hoàn 10 g.
    Mỗi ngày dùng 2 lần, mỗi lần 1 hoàn, chiêu với nước muối nhạt (1%).
    - Trẻ chậm biết đi, chậm mọc răng, chân tay mềm yếu, chậm lớn: Phần ngọn của huyết nhung 1,5 g; đơn bì, ngũ gia bì, phục linh, sơn thù nhục, trạch tả mỗi thứ 15 g; thục địa 20 g, xạ hương 0,15 g. Tất cả tán thành bột mịn, luyện mật ong làm hoàn 3 g.
    Mỗi ngày uống 2 lần (sáng, tối), mỗi lần 1 hoàn (trẻ 1-4 tuổi) hoặc 2 hoàn (trẻ 5-8 tuổi). Dùng trong 30 ngày.
    - Chữa bất lực, bần tinh của nam, lãnh cảm của nữ, phục hồi sức khỏe cho người ốm lâu ngày: Nhung 3,8%; nhân sâm 4,7%; ba kích, đỗ trọng bắc, đương quy, hoàng kỳ, long nhãn, ngưu tất mỗi thứ 15% (các vị gia giảm tùy thể trạng từng người). Tất cả chế thành bột mịn, luyện với mật ong, làm hoàn 10 g.
    Chữa trẻ em chậm lớn, còi xương, suy dinh dưỡng: Bột nhung 0,5 g x 2 lần/ngày.
    Giúp kéo dài tuổi thọ (dùng thường xuyên và đúng chỉ định): Bột nhung 0,3-1 g x 2-3 lần/ngày.
    Để nhận biết nhung thật, sơ bộ có thể xem chỗ mặt cắt. Mặt cắt nhung thật sạch, trắng, có lỗ nhỏ như tổ ong, rìa ngoài không có chất xương, mùi tanh, vị mặn



    Tác dụng chủ trị:
    + Ích khí, cường khí, sinh xỉ, bất lão, Chủ lậu hạ ác huyết, hàn nhiệt kinh giản (Bản kinh).
    + Dưỡng cốt, an thai, uống lâu kéo dài tuổi thọ.Trị hư lao, sốt rét, gầy ốm, tay chân đau, lưng và thắt lưng đau, tiết tinh, huyết suy, bụng có bướu máu, tán sỏi đường tiểu, ung nhọt, nóng trong xương (Danh Y Biệt Lục).
    + Bổ cho nam giới bị lưng lạnh, chân và gối không có sức, mộng tinh, tiết tinh, phụ nữ bị băng trung lậu huyết [nướng lên uống với rượu, lúc đói] (Dược Tính Luận).
    +Bổ hư, tráng gân cốt, phá ứ huyết, an thai, hạ khí [nướng với dấm để dùng] (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
    + Sinh tinh, bổ tủy, dưỡng huyết, ích dương, làm mạnh gân xương. Trị hư tổn, tai ù, mắt mờ, chóng mặt, hư lỵ... Toàn thân con hươu đều bổ dưỡng cho con người (Bản Thảo Cương Mục).
    + Trị trẻ nhỏ bị đậu trắng nhạt, nước đậu không vỡ, tiêu chảy, người gìa Tỳ Vị hư hàn, mệnh môn không có hỏa hoặc ăn uống thất thường (Bản Thảo Sơ Yếu).
    Đơn thuốc kinh nghiệm:
    + Trị tinh huyết suy kiệt, sắc mặt đen sạm, tai ù, mắt hoa, miệng khô, khát, lưng đau, gối mỏi, tiểu đục, trên táo dưới hàn: Lộc nhung, Đương quy (đều tẩy rượu). Lượng bằng nhau, tán bột. Dùng thịt Ô mai nấu thành cao, trộn thuốc bột làm hoàn. Ngày uống 8-12g lúc đói với nước cơm (Hắc Hoàn - Tế Sinh Phương).
    + Trị tinh huyết đều khô, doanh vệ hao tổn, sốt về chiều, tự ra mồ hôi, hồi hộp, lo sợ, chân tay mỏi, các loại hư yếu: Lộc nhung (chưng rượu), Phụ tử (bào) đều 40g. Tán bột. Chia làm 4 phần. Thêm Sinh khương 10 lát, sắc uống ấm(Nhung Phụ Thang - Thế Y Đắc Hiệu Phương).
    + Trị hư yếu, liệt dương, da mặt không tươi, tiểu nhiều, không muốn ăn uống: Lộc nhung 20-40g. Ngâm rượu 7 ngày, uống dần (Lộc Nhung Tửu - Phổ Tế Phương).
    + Trị Thận dương bất túc, tinh khí hao tổn gây nên liệt dương, di tinh, hoạt tinh, tiết tinh, lưng đau, gối mỏi, đầu váng, tai ù: Lộc nhung, Nhân sâm, Thục địa, Câu kỷ tử, Phụ tử. Làm thành hoàn, uống (Sâm Nhung Vệ Sinh Hoàn - Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).
    + Trị phụ nữ bị băng lậu, vô sinh do dương hỏa suy: Lộc nhung 40g, Thục địa 80g, Nhục thung dung 40g, Ô tặc cốt 40g. Tán bột. Ngày uống 8-12g. (Lộc Nhung Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
    + Trị liệt dương, tiểu nhiều:



  2. Mẹo: Mọi thắc mắc mua hàng bạn có thể hỏi trong ô bình luận Facebook bên dưới.

    Mỗi bình luận đồng thời sẽ up topic lên đầu (Nút up topic màu đỏ chỉ xuất hiện khi tài khoản đã chứng thực).