Biệt Thự Dã Quỳ - Thảo Nguyễn

Thảo luận trong 'Buôn chuyện | Các nhóm chém gió nổi tiếng' bắt đầu bởi Hoangdk, 29 Tháng chín 2009.

  1. Gần mười năm nay tôi không viết truyện ngắn nào nữa, cho đến cách đây hơn một tuần lễ, từ một gợi ý và cốt truyện do chồng tôi nghĩ ra, tôi đã viết truyện này. Nhưng lần này không phải là để đăng báo, mà đăng lên đây cho quý vị đọc chơi.

    Trong truyện, tôi tả cảnh vật Đà Lạt, đèo Prenn, và có nói đến một “căn nhà ma” trên đèo Prenn, đều là những chi tiết có thật. Ngoài ra, tất cả những tên người cũng như địa danh trong truyện đều mang tính chất hư cấu, mọi trùng hợp (nếu có) đều là ngẫu nhiên, và tôi sẽ không chịu trách nhiệm.

    Mong nhận được phản hồi của các bạn, anh, chị, và các tiền bối.


    Biệt Thự Dã Quỳ




    (Tặng Đà Lạt thương yêu)

    Đã lâu lắm rồi, có đến năm năm, vợ chồng Thụy không lên Đà Lạt chơi. Ngày trước, khi còn son rỗi, Thụy và Cúc thường đi nghỉ ở Đà Lạt mỗi năm hai, ba lần. Họ chỉ đến nghỉ ở duy nhất một biệt thự nhỏ cũ kỹ nhưng xinh xắn, mà chủ nhân nơi ấy đối với họ trở nên quen thuộc gần như bạn bè chứ không giống như quan hệ chủ - khách. Thụy thường gọi điện thoại trước đặt phòng, rồi khi hai vợ chồng anh đến nơi, Thành, ông chủ nhà trạc tuổi Thụy, và Tiên – vợ Thành sẽ ra đón, và luôn luôn có con chó lai berger to lớn mập mạp với bầy chó cỏ kéo theo sau sủa inh ỏi. Nếu lũ chó sủa om lên mà Thành hoặc vợ anh chưa ra kịp, thì chính Thụy và Cúc sẽ nạt một tiếng, “Im, Bi!” Tức thì con chó to lớn im bặt và ngoe nguẩy đưôi ra chiều biết lỗi.

    Thụy quen thuộc với Biệt Thự Dã Quỳ đến là vậy.

    Thế mà đã năm năm hai vợ chồng anh không ra Đà Lạt. Công ty của Thụy mở chi nhánh bên Cambodia, cử anh đi làm trưởng đại diện. Cúc nhờ là giáo viên tiếng Anh có chứng chỉ của một trường Úc nên cũng theo Thụy qua đó đi dạy ở một trường tiểu học - trung học quốc tế. Hai vợ chồng có cuộc sống khá thoải mái, sáu tháng về Việt Nam một lần khoảng hai tuần, và du lịch Thái Lan nếu có thể thu xếp thời gian. Thụy ít đi công tác, nếu có thì cũng hoặc là về Việt Nam, hoặc là sang công ty mẹ ở Pháp. Con gái của Thụy và Cúc đang học lớp mầm ở trường Cúc dạy, nên hàng ngày cô vẫn đưa con đến trường luôn.

    Khí hậu ở Cambodia nóng ẩm, khó chịu hơn cả ở Việt Nam, nên Thụy thường nhắc Đà Lạt với Cúc. Anh vẫn nhắc đi nhắc lại rằng, sẽ thu xếp để hai vợ chồng đi Đà Lạt một chuyến. Nhưng Cúc bận dạy và Thụy bận làm việc, khi cả hai cùng về Việt Nam được thì là những chuyến đi vội vã, mua sắm, thăm hỏi, có khi lại còn kết hợp làm việc nữa, nên mãi đến bây giờ cả hai mới lại cùng nhau lên xứ sương mù. Con, thì Thụy và Cúc gửi bên bà ngoại mấy hôm. Số điện thoại của biệt thự Dã Quỳ thì trong lúc chuyển nhà đã lạc đâu mất. Cúc chắc lưỡi, kệ, mình cứ lên đại, mùa này ít khách du lịch, hẳn họ sẽ có phòng cho mình. Nếu không phải là căn phòng quen thuộc đó, thì ít ra cũng còn một phòng khác ở tầng trệt chứ!

    Thế là họ lên đường.

    Khi chiếc xe bus chở đầy hành khách tiến vào đèo Prenn thì trời đã nhá nhem tối. Trong cái tranh tối tranh sáng ấy, triền dốc cao với những tảng đá nâu sẫm gồ ghề nhô ra như chực đổ ầm xuống chắn ngang đường hoặc đè bẹp chiếc xe duy nhất đang chậm chạp bò qua. Bên kia, vực sâu trông dễ sợ hơn bởi nó hun hút, vô tận, như không đáy dưới làn sương mù dày đặc. Lúc xe qua những khúc quanh gắt, Cúc bấu nhẹ vào tay chồng cho đỡ sợ. “Căn nhà ma” – như người Đà Lạt vẫn gọi - trên triền dốc cũng lãng đãng trong sương, và không hiểu sao sau bao nhiêu năm vẫn không ai dọn đến ở, vẫn tối đen với những ô cửa vỡ.

    Từ nơi xe dừng, đi bộ một quãng chừng năm trăm thước là đến Biệt Thự Dã Quỳ. Hành lý cũng không có gì nhiều nên Thụy và Cúc đi bộ, như lúc trước. Con dốc thoai thoải, giữa lưng một quả đồi, bên trái là sườn đồi đi lên – trên đó chỉ có một biệt thự duy nhất bị bỏ hoang từ hồi giải phóng đến giờ, và bên phải là sườn đồi dốc xuống với vài căn biệt thự cho du khách thuê. Xa tít dưới kia là những nóc nhà dân Đà Lạt và vườn rau của họ. Nhưng giờ trời đã tối lắm, dưới đó chỉ là bóng đen bao trùm. Một vài ngôi nhà hắt ánh sáng mờ mờ yếu ớt ra mảnh sân nhỏ giờ cũng phủ đầy sương. Những ngôi biệt thự có khách ở thì còn chưa đóng cửa; còn thì tất cả đều yên lặng sau cánh cửa im ỉm như không có người. Chỉ có ánh đèn vàng sáng lên những vầng tròn mờ đục trong sương. Trên con đường vắng giờ chỉ còn hai bóng người đi chầm chậm. Cúc thở hổn hển, mới lên cao nguyên ai chưa quen cũng bị như thế, do không khí loãng thiếu oxy nên phải thở dồn dập.

    Biệt Thự Dã Quỳ còn để cửa chờ khách. Có lẽ Thụy và Cúc không phải là những vị khách duy nhất hôm nay. Thụy bước chậm lại, do dự: anh lo không biết có còn được ở trong căn phòng quen thuộc ấy không. Cúc như đọc được ý Thụy. “Mình cứ vô đi anh, biết đâu người ta chỉ ở những phòng khác thôi.”

    Căn phòng mà Thụy và Cúc ở lúc trước là một phòng đôi nằm trên lầu. Đối diện với nó là một căn phòng đơn nhỏ, và bên dưới hai phòng này chỉ có hai căn phòng nữa, cũng một đôi, một đơn như vậy. Toàn bộ nhóm bốn phòng này nằm bên phải nhưng tách biệt với nhà chính, được xây sau ngày giải phóng để cho khách thuê. Nhà chính là một ngôi biệt thự kiểu cũ, một trệt một lầu, được xây có lẽ đến hơn năm mươi năm trước. Mọi sinh hoạt của chủ nhân đều ở đây, và vào những dịp đặc biệt khách được mời vào nhà chính ăn bữa tiệc nhỏ do chủ nhân đãi, với lò sưởi bập bùng, và nghe đàn piano cũng do chính chủ nhân đàn, đúng kiểu Đà Lạt. Bên trái nhà chính là hai phòng dành cho khách, dính liền với nhà chính nhưng không có cửa thông sang, một phòng bốn giường cho những gia đình nhiều người, và một phòng nhỏ nhìn ra vườn. Toàn bộ các phòng cũng như ngôi biệt thự cũ đều có sàn ốp gỗ, mái ngói, cửa sổ hai lớp và rèm, như thường thấy ở xứ lạnh. Thụy thích căn phòng đôi trên lầu vì nó có ban-công nhìn ra vườn, và xa nữa là sườn đồi thoai thoải với cây cối hoa quả tươi tốt che những mái nhà nhỏ xinh như đồ chơi. Bên kia thung lũng là một sườn đồi khác xanh ngát rừng thông, màu xanh ngắt của thông già sẽ quyện vào màu tím sẫm hoàng hôn, và lúc bình minh nó vẽ một đường ranh rõ rệt giữa trời tím hồng và đất xanh đen thẫm.

    Thụy xốc lại vali, bước vào. Không nghe tiếng chó sủa. Con berger lai vẫn đứng đó, nhưng đuôi cụp xuống, dáng buồn buồn, im lặng. Ngôi biệt thự leo lét ánh nến in bóng đen sẫm lên nền sương mờ đục. Cúc kéo tay Thụy, nói nhỏ, “Phòng đó không thấy đèn, chắc không có khách ở đâu anh. Mà sao yên lặng quá ta!”

    Vừa lúc đó, họ thấy Thành và Tiên bước ra. Tiên đưa cho Cúc chìa khóa phòng, vẫn phòng số 4, nhưng không nói gì ngoài nụ cười không buồn không vui kỳ lạ mà Thụy và Cúc chưa thấy bao giờ. Cúc hỏi, “Anh chị khỏe không?”. Tiên chỉ nhẹ gật đầu. Thụy giải thích, “Tụi tôi làm mất số điện thoại nhà anh chị, nên không báo trước. Tôi tính cứ lên đại, thôi thì có phòng nào ở phòng đó, may quá lại còn đúng phòng này.” Thành gật đầu. Anh đưa tay ra hiệu mời Thụy và Cúc lên phòng nghỉ. Cúc nói với lại, “Lát tôi sẽ xuống đưa giấy tờ cho anh chị sau.”

    Hai vợ chồng Thụy thấy lạ lắm. Trước đây Thành và Tiên vẫn rất niềm nở với khách quen. Hay là họ đã quên Thụy và Cúc? Không lý nào; họ vẫn đưa đúng chìa khóa phòng mà vợ chồng Thụy thích, vả lại còn có vẻ nhận ra khách mà. Hay là có chuyện gì không hay xảy đến cho gia đình khiến Thành và Tiên trở nên u buồn khác thường? Tiên chỉ một ngọn nến trên bàn, ra ý bảo Cúc cầm lên phòng. Cúc không biết nói gì hơn, cầm nến, soi đường cho Thụy lên lầu, nghĩ thầm có lẽ cầu chì đứt nên không có điện chăng.

    Những bậc thang bằng gỗ quen thuộc bây giờ hơi bụi bặm. Cúc băn khoăn. Cô biết Tiên ưa sạch sẽ, hay dọn dẹp lau chùi dù nhà có khách hay không. Khách đến đột ngột vẫn sẽ thấy ngôi nhà sạch như li như lau. Có lẽ có điều gì bất thường xảy đến cho nhà này thật. “Hay là ba anh Thành mất, anh hả?” Cúc buộc miệng hỏi chồng. Thụy cũng có vẻ hơi căng thẳng, anh gắt nhẹ, “Nếu nhà có đám ma ai mà đón khách? Nếu đúng là có ai mất, họ đã biểu mình kiếm chỗ khác nghỉ rồi. Em đừng đoán nữa.” Cúc cũng bực mình, định vặc lại, nhưng thôi. Tuy vậy cô vẫn nghĩ, biết đâu, vì mình là khách quen mà trời lại tối, họ không nỡ từ chối.

    Sau khi vào phòng, Thụy nhìn quanh. Mọi thứ vẫn như cũ, vẫn giường, nệm, chăn và rèm cửa với hoa văn quen thuộc. Ở góc phòng vẫn cái ghế mây với miếng nệm lót ngồi màu đỏ. Thụy đặt vali kế cái tủ áo, rồi ngồi xuống giường. Quái lạ: giường hơi cứng chứ không êm như xưa. Có lẽ lâu nay ít khách đến đây, hay vì lý do gì mà chủ nhân không đầu tư cho phòng nghỉ nữa. Cúc mở nắp vali, định lấy đồ ra. Thụy nói: “Thôi đi em, mình ra phố ăn chút gì đi. Anh đói bụng quá rồi. Để đó lát về làm.” Trước đây, Cúc vẫn nhờ Tiên nấu cơm hay mì, nhưng hôm nay, thái độ kỳ lạ của Thành và Tiên khiến vợ chồng Thụy thấy ngại, không muốn làm phiền. Cúc lấy bóp tiền, rồi cùng Thụy bước ra, cầm nến theo, khóa cửa phòng lại. Cúc mang giấy chứng minh nhân dân để đưa cho Thành, nhưng khi xuống sân, lại không thấy ai. Ngọn nến trong nhà vẫn leo lét cháy, nhưng xung quanh tuyệt nhiên không một bóng người. Con chó vẫn đứng trong sân, dáng điệu vẫn như lúc Thụy và Cúc mới đến. Cúc khẽ đặt nến và chìa khoá phòng trên bàn trước hiên nhà chính, rồi rón rén bước ra, nắm tay chồng khẽ kéo Thụy ra khỏi cổng biệt thự.

    Hai vợ chồng Thụy đi trong yên lặng đến khi họ đến trước một ngôi nhà khác. Đây là một biệt thự mới xây, cửa đóng, nhưng phía trước để một ngọn đèn cao áp khá sáng. Cúc dừng lại. Cô hơi mệt vì đi xe cả ngày, lại hơi căng thẳng vì mãi đoán xem chuyện gì đã xảy ra ở Biệt Thự Dã Quỳ. Cúc nói với Thụy, giọng thì thầm, “Anh gọi taxi đi, em không muốn đi bộ nữa. Em nhớ mang máng là taxi ở đây số 063…..” May mà Cúc nhớ đúng. Họ đứng chờ khoảng năm phút, thì taxi đến. Tài xế taxi là một thanh niên chừng hai mươi tuổi, nhanh nhẹn. Anh ta đưa business card cho Thụy, “Anh chị ở biệt thự này hả? Mai có đi đâu chơi kêu em nghe.” Cúc nói “Không, tụi tôi ở đằng kia một chút.” Tài xế nhíu mày, “Vậy là đằng biệt thự cuối đường?” Cúc không trả lời vì cô mệt mỏi không muốn nói chuyện. Đến khu trung tâm, mùa này ít du khách, nhưng Đà Lạt cũng đông đúc hơn xưa. Đèn sáng choang, chỉ còn ít sương lãng đãng trên mặt hồ Xuân Hương, còn thì trời trong, và trên phố nhiều người qua lại. Taxi đưa vợ chồng Thụy đến một nhà hàng lâu đời và khá nổi tiếng ở thành phố này. Ăn tối xong, Thụy khoác tay vợ đi đến quán café mà trước đây họ hay đến. Cúc và Thụy nghĩ có lẽ vì họ mệt quá nên lo lắng quá mức, lát nữa đây khi họ về lại biệt thự, có lẽ mọi chuyện sẽ đâu vào đấy.

    Đó là một quán café nhỏ cũ kỹ, có lẽ cũng năm, sáu mươi năm. Bây giờ du khách ít đến đó; chỉ còn dân Đà Lạt đến ngồi chơi, rì rầm nói chuyện, chuyện nhà cửa, chuyện làm ăn, và chuyện nghệ thuật nếu khách là nghệ sĩ (mà Đà Lạt thì thiếu gì nghệ sĩ!). Cúc chọn một bàn trong góc gần cửa sổ nhìn ra đường. Thụy ngồi dựa vào tường ốp gỗ, lặng yên nhìn ra đường, nét mặt đã thật thanh thản khi tìm lại được cảm giác ngày xưa. Cúc ngồi quay lưng lại một bàn có bốn hay năm khách đang ngồi. Lúc đầu, Cúc không để ý đến họ. Nhưng khi nghe những chữ “biệt thự”, “rao bán rẻ mà không ai mua”, Cúc hơi lắng nghe. Không phải cô quan tâm đến chuyện mua bán đất đai gì, mà là trong đầu cô vẫn đang còn lẩn quẩn hình ảnh kỳ lạ của Biệt Thự Dã Quỳ tối nay.

    Chợt tiếng một người đàn ông bàn bên gắt lên hơi lớn khiến Cúc giật mình, “Bà đừng đem chuyện đồn đoán nói lung lung! Bà có thấy chưa?” Giọng người đàn bà nhỏ nhưng hậm hực, “Thì phải có thế nào người ta mới nói chứ! Nhà hoang đất trống ở đây thiếu gì, sao lại chỉ có Dã Quỳ bị đồn?”

    Cúc sực ngó sang chồng. Cô nhận ra Thụy cũng đã lắng nghe từ lúc nào. Nhìn nét mặt Thụy, Cúc hiểu anh cũng đang nghĩ như mình. Cô thì thầm gần như không nghe thấy. “Thì ra nhà họ có chuyện gì thật, anh à.” Thụy gật đầu, ra hiệu cho vợ im lặng, bởi câu chuyện bàn bên vẫn đang tiếp tục.

    Giọng một người đàn ông khác cất lên, nghi hoặc, “Có thật là miếng đất đó bị ám như vậy không? Hay người ta đồn vậy để mua rẻ?”

    Vẫn người đàn bà khi nãy trả lời, bây giờ thong thả giải thích, “Đất khu ấy là vàng đấy anh ạ. Thế mà họ rao cái giá ấy… mà có ai mua đâu. Ai cũng đến xem, rồi hỏi han xung quanh, rồi đi. Mà tôi nói thật nhé, có cho tôi, tôi chả lấy.”

    Thụy nhướng mày không hiểu. Anh biết giá trị khu đất của Biệt Thự Dã Quỳ. Trước đây, có lần anh định mua một mảnh đất nhỏ ở cùng sườn đồi ấy, định để dành sau này sẽ về nghỉ hưu ở thành phố yên tĩnh này. Nhưng rồi suy đi tính lại, ở một nơi heo hút như thế, không có điều kiện chăm sóc y tế tốt bằng Sài Gòn, nên thôi. Vả lại, đất ở đó rất đắt. Mà đó là năm năm về trước; bây giờ, lẽ ra nó phải đắt hơn chứ sao lại… Cúc nói với chồng, “Để em hỏi họ xem sao?” Thụy gật đầu.

    Cúc quay sang bàn bên, lịch sự hỏi: “Phải chị đang nói đến Biệt Thự Dã Quỳ không ạ?”

    Người đàn bà giật mình ngó Cúc, tránh cái nhìn nghiêm khắc của người đàn ông lớn tiếng lúc nãy. Mấy giây sau, bà ta mới lên tiếng, “Vâng, có chi không cô?”

    Cúc nhã nhặn, “Dạ, tôi cũng muốn mua chỗ đó, nhưng nghe chị nói nó rẻ vì bị ám… Chuyện ra sao hả chị?”

    Người đàn bà lúng túng, hết nhìn cô đến nhìn chồng (người đàn ông nọ là chồng bà ta). Rốt cuộc, chính người đàn ông nọ lên tiếng. “Cô đã đến xem miếng đấy ấy chưa?”

    “Dạ chưa, tôi ở Sài Gòn mới ra tối nay, định mai mới đi coi.” Không hiểu sao, Cúc quyết định nói dối.

    “Vậy người giới thiệu cho cô có nói nó thế nào không?” Ông ta hỏi.

    Cúc lắc đầu. Người đàn ông thở dài, rồi hắng giọng. Ông ta có vẻ phân vân như đang không biết liệu có nên nói điều gì đó với Cúc không. Thụy lên tiếng.

    “Vợ chồng tôi ở xa, người môi giới chỉ nói về diện tích và địa điểm mảnh đất chứ hoàn toàn không nói gì hơn… Nếu anh chị biết gì cho chúng tôi hay thì tốt quá. Thiệt tình tôi không tin chuyện ma ám, nhưng làm ăn, nếu bị tiếng xấu thì cũng kẹt”

    Người đàn ông gật đầu hiểu biết. Ông ta bắt đầu kể:

    “Biệt Thự Dã Quỳ là một trong những biệt thự xưa nhất ở Đà Lạt, nếu không kể mấy căn biệt thự Tây có tuổi đến cả trăm năm. Ông chủ nhà này trước năm bảy lăm làm công chức cho Mỹ. Sau ngày giải phóng, ông không phải đi học tập, nhưng không có việc làm. Các con của ông, người thì di tản, kẻ vào Sài Gòn sinh sống. Chỉ còn vợ chồng cậu con út và hai ông bà ở biệt thự này.”

    Thụy đã biết tất cả những điều đó, nhưng anh vẫn kiên nhẫn lắng nghe.

    “Thế rồi họ phải mở dịch vụ nhà nghỉ, như hầu hết dân Đà Lạt nào có điều kiện làm như vậy. Họ xây thêm một khối nhà bốn phòng bên phải, và trưng dụng hai phòng cánh trái ngôi nhà thành phòng cho khách du lịch thuê. Theo tôi biết thì họ lúc nào cũng có khách, mà thường là khách quen, vì nếu không thích cái khung cảnh yên tĩnh thế, chẳng ai muốn đến một nơi xa trung tâm đến vậy.

    Cách đây bốn năm gì đấy… thì tai họa xảy đến cho gia đình anh Thành. Ông khách nghỉ trong căn phòng nhỏ cánh trái uống say, rồi hút thuốc thế nào lại làm bắt lửa sang giường. Người ta nói ông này làm đổ rượu đầy phòng nên lửa bắt cháy nhanh. Sàn nhà gỗ cháy lan sang nhà chính, thiêu tất cả mọi người trong nhà lẫn ông khách bất cẩn nọ. Nhà cũ, nhiều thứ bằng gỗ, nên lửa cháy lan nhanh… Mà ở khu vực đấy, hàng xóm cách nhau cả trăm mét, đến khi người ta biết ra, gọi cứu hỏa, rồi cứu hỏa đến, thì khối nhà bốn phòng đã cháy gần hết, còn nhà chính thì đã ra tro mất còn đâu.”

    Thụy và Cúc kinh hoàng nhìn nhau. Thụy cố giữ giọng bình tĩnh, hỏi:

    “Vậy người nhà đã về xây lại ngôi biệt thự, hay có bà con thân thuộc nào đến ở coi sóc không anh?”

    “Còn gì mà coi với sóc. Cháy tất. Họ hàng chỉ về làm ma chay rồi đi. Có lẽ chả ai muốn ở một nơi tang thương như thế.”

    “Vậy… bây giờ ở đó là bãi đất trống thôi sao?” Thụy gặng.

    “Vâng anh ạ. Nhưng có lẽ do họ chết thảm quá, cả mấy mạng người lớn trẻ con nên người ta đồn rằng ở đấy bây giờ có ma ám.” Người đàn bà thêm vào, giọng thì thầm gần như không nghe được.

    Thụy lặng người nhìn Cúc. Anh cảm ơn mấy người nọ, trả tiền, rồi rời quán. Ra đến ngoài, Cúc nhìn anh, mặt tái mét, phải níu tay Thụy để đứng vững trước cơn gió lạnh rít qua con đường giờ đã khá vắng.

    Thụy dìu vợ đến một khách sạn trong phố. May mà họ có đem theo cả tiền và giấy tờ, nên việc thuê phòng cũng dễ dàng. Chủ khách sạn nhìn hai người, hơi nghi hoặc, khách du lịch sao lại không có hành lý gì cả. Nhưng có lẽ mùa này vắng khách nên ông tặc lưỡi, lắc đầu, mặc kệ. Ông giao chìa khóa phòng, chỉ lối lên phòng cho Thụy, rồi lại quay về đứng ghi chép sau quầy.

    Thụy đưa vợ lên phòng, đặt cô xuống giường, rồi nhẹ nhàng ngồi xuống bên cạnh. Cúc vẫn không rời tay Thụy. Cô thảng thốt nhìn mặt chồng như không cần biết mình đang ở đâu, miễn có Thụy bên cạnh. Thụy vỗ về, dỗ vợ như dỗ một bé con rằng không có ông kẹ nào dưới gầm giường cả. Thụy nói:

    “Mình chỉ nghe chuyện người ta đồn thôi… biết đâu họ lầm. Hoặc có khi họ biết mình đến Biệt Thự Dã Quỳ nghỉ nên chọc mình. Em đừng sợ, ngủ một giấc cho khỏe đi rồi mai tính. Sáng mai anh sẽ về đó xem sao, nếu em không thích ở đó nữa thì anh lấy đồ đạc qua đây luôn.”

    Cúc khẽ gật đầu, nhưng vẫn không nói gì. Suốt đêm cô không ngủ. Thụy cũng thức, nằm nghiêng, nhìn vợ tội nghiệp. Có lẽ Cúc quá hoảng loạn với câu chuyện kia; trách cô ấy sao được, chính anh, anh cũng rùng mình, rợn tóc gáy khi nghe kể. Nhưng anh không tin có ma quỷ. Có lẽ những người nọ đơm đặt, hoặc họ không biết rõ sự việc. Có lẽ người nhà Thành và Tiên đã dọn đến sửa sang lại, mà người ở phố chưa hay chăng, và trong lúc trời tối lại mất điện Thụy và Cúc không nhận ra, trông gà hóa cuốc, hèn gì chủ nhà không thân thiện chút nào. Thụy miên man nghĩ rồi thiếp đi…

    Thụy thấy Thành đang đứng trước mặt anh, gương mặt lạnh lẽo như khi anh đến tối qua. Thành giơ tay như muốn bắt tay Thụy, nhưng có ai đó đang cố kéo Thụy ra xa, anh giật tay mạnh…

    “Ui đau!”

    Thụy giật mình choàng tỉnh. Anh vừa nằm mơ, còn Cúc đang nắm tay anh lay mạnh. Anh vội xuýt xoa hỏi vợ có bị anh vung tay trúng không. Cúc lắc đầu, nói “Không sao.”

    Đã năm giờ rưỡi sáng. Ngoài kia, trời đã rạng màu hồng tím nhạt.

    Thụy vào phòng tắm đánh răng, rửa mặt. Anh nhìn mình trong gương và thấy mặt mình thật hốc hác.

    Thụy muốn đi ngay đến Biệt Thự Dã Quỳ, nên dặn Cúc chờ mình ở đây. Cúc lắc đầu, cô nói:

    “Em cũng đi với anh.”

    Thụy gật nhẹ. Anh biết tính Cúc, khi qua cơn hốt hoảng, cô sẽ tìm cách đối diện với nỗi sợ hãi. Anh trả phòng, thanh toán, hơi khó chịu vì cặp mắt lấm lét của ông chủ khách sạn hết nhìn anh lại nhìn Cúc.

    Anh kêu taxi. Khi nghe anh nói đến Biệt Thự Dã Quỳ, tài xế taxi ngẩn người hỏi lại địa chỉ. Anh trả lời, hơi gắt gỏng khiến anh ta im lặng suốt quãng đường còn lại. Cũng cảnh vật ấy, con đường ấy, đêm qua đầy vẻ bí ẩn đáng sợ, thì giờ tươi tắn dưới ánh nắng sớm. Cao nguyên trời chóng sáng, mới sáu giờ mà bầu trời đã trong xanh, và nắng đã chiếu lóng lánh trên những giọt sương chưa tan hết.

    Và kia là Biệt Thư Dã Quỳ.

    Vẫn cánh cổng sắt mở rộng như khi vợ chồng Thụy đến. Vẫn mảnh sân rải sỏi như xưa. Nhưng trên nền ngôi nhà chính lúc trước giờ chỉ còn ít gạch đá lẫn với những đoạn sắt, tất cả đã cháy đen. Ngay trước ngôi nhà, trên cái bàn sắt cháy cong xiêu vẹo, là một mẩu kim loại nhỏ không ra hình thù gì, mà Thuỵ biết đó là chiếc chìa khoá phòng, nằm cạnh nửa thanh nến đã tắt có lẽ từ lâu lắm rồi. Và trong khối nhà tách biệt kia, trên sàn nhà trơ gạch nám đen, là hành lý của vợ chồng Thụy.
    (Hết)


  2. Mẹo: Mọi thắc mắc mua hàng bạn có thể hỏi trong ô bình luận Facebook bên dưới.

    Mỗi bình luận đồng thời sẽ up topic lên đầu (Nút up topic màu đỏ chỉ xuất hiện khi tài khoản đã chứng thực).