Bán nhông (dông), kỳ đà giống

Thảo luận trong 'Thú nuôi, cây cảnh HCM, Hà Nội' bắt đầu bởi Orange, 7 Tháng hai 2011.

  1. Orange New Member

    Hiện tôi đang nuôi cả kỳ nhông và kỳ đà bán giống và thịt theo phương pháp mới . Ai có nhu cầu thì liên hệ theo địa chỉ sau:
    Mr . Vũ : 0948933989,0975038898
    Tp- Quy Nhơn , tỉnh Bình Định


    Kỳ Nhông (Dông)

    Tên gọi: Tên Việt Nam gọi là nhông, nhông có nhiều giống, nhông vùng đất gọi là nhông cát benly.
    Nhông cát (Leiolepis belliana Gray) tên khác là dông cát, nhông biển, nhông cát sử nữ sinh... là một loài bò sát giống thằn lằn. Thân hơi dẹt, chân mảnh, lưng nhẵn bóng, có vảy nhỏ, bụng màu nhạt có vảy lớn hơn. Đuôi dài, thuôn nhọn. Da có màu sắc biến đổi tùy lúc. Nhông cát có loại to gọi là nhông thềm và loại nhỏ bằng ngón tay là nhông que. Nhông con được gọi là nhông cắc ké. Nhông cát chỉ có ở các tỉnh miền Trung và là đặc sản từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Loài này sống ở những cồn cát dọc bờ.

    Vóc dáng:

    Giống nhông này có đặc điểm là có các đốm nhỏ trên lưng không liền nhau để tạo ra một mạng lưới hoặc những đường dọc và dọc theo hông có các vệt lớn màu đen, cam

    Tập tính sinh hoạt và môi trường sống:

    Loài bò sát rất đẹp này thường ra khỏi hang để sưởi ấm vào buổi sáng để điều hoà nhiệt độ cơ thể (chúng thuộc loài máu lạnh), tìm thức ăn và gây ấn tượng đối với các con cái xung quanh cả ngày, rồi rút vô hang vào xế chiều, đóng cửa hang lại bằng cát.
    Kỳ nhông sống và làm tổ trên đất cát, từ khi còn nhỏ cho tới khi thành phẩm khoảng 8-10 tháng. Kỳ nhông ăn lá cây, rau quả, nụ hoa quả và chồi cây, ngoài ra chúng còn ăn trứng bọ cánh cứng, bướm và các côn trùng khác như sâu, giun. . . uống nước it, phân không đáng kể, môi trường sống tự nhiên không có dịch bệnh, ít tốn công chăm sóc. Đặc biệt, chúng leo trèo rất giỏi và có thể nhảy xa cả mét từ cành cây này sang cây khác.
    Thức ăn:

    Thức ăn cửa kỳ nhông chủ yếu là thực vật, lá cây, rau, quả, nụ hoa quả và chồi cây, ngoài ra chúng còn ăn lông bọ cánh cứng, bướm và các côn trùng khác như sâu, giun . . .

    Sinh trưởng, phát triển và sinh sản:

    Kỳ nhông đến tuổi trưởng thành thì bắt đầu đẻ trứng. Con cái đẻ 3- 8 trứng trong hang vào mùa nóng và khô; sau các cơn mưa lớn đầu mùa, nhông con nở ra, có sọc và đuôi màu đỏ nhạt. Nhông con mới nở sống chung hang với mẹ trong nhiều tháng trước khi tự đào hang riêng ở gần đó.
    Trong chăn nuôi nhân tạo, trứng kỳ nhông sau khi đẻ ra phải có đủ độ ẩm mới nở ra con. Thực tế cho thấy, trứng đẻ dưới đất thì nở ra con, còn những trứng đẻ ở trên sàn thì chết khô do thiếu ẩm.

    Kỳ nhông nói riêng và côn trùng nói chung như bọ xít, bọ cạp, bọ hung, sâu đục thân, kiến, dế mèn... là những loại côn trùng phổ biến trên các loại cây trồng, chỉ cần nghe tên thôi cũng làm cho nhiều người "ghê sợ". Thế nhưng, trong những nghiên cứu mới đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng côn trùng có rất nhiều tác dụng bổ ích đối với con người, đặc biệt có thể sử dụng chúng như những món ăn thuộc hàng "đặc sản" với những tác dụng như "cải lão hoàn đồng"...
    Tương tự, một số loài khác cũng có thể chế biến thành những món ăn ngon như món dế mèn pha áu trừng, sâu chít ngâm rượu, bột vỏ xác ve sầu, bọ hung hại rễ cây nướng. Đặc biệt nhất là món trứng kiến với tác dụng "cái lão hoàn đồng" (giữ da đẹp, người trẻ lâu). Từ trứng kiến có thể chế biến thành các món ăn độc đáo như xôi trứng kiến, bánh kim cương, mướp đắng xào trứng kiến...
    Giá trị và thị trường:

    ở Việt Nam, đến nay các nhà khoa học đã tìm ra và xác định được ít nhất 19 loài côn trùng có thể dùng làm thực phẩm và thuốc chữa bệnh, đặc biệt là loài bọ cạp. Theo PGS -TS. Lê Xuân Huệ - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật: "Nếu chế biến nọc bọ cạp thành dạng bột hoặc đem ngâm với rượu sẽ có tác dụng trị được rất nhiều bệnh, đặc biệt là các bệnh liên quan tới thần kinh, bán thân bất toại (vì trong nọc của bọ cạp có các chất chống độc). Ngoài việc bào chế thành thuốc, cũng có thể ngâm bọ cạp với cồn, thêm một ít dầu nóng có thể chữa các bệnh sưng tấy, trẹo xương, viêm khớp, các vết bầm tím do ngã, bỏng nước sôi... (tương đương với mật gấu), nhưng giá rẻ hơn nhiều hoặc ngâm với rượu tạo ra một loại rượu bổ quý hiếm...
    Hiện nay, thịt kỳ nhông đang là món "đặc sản" được các nhà hàng, quán nhậu tiêu thụ rất mạnh.
    Tầm quan trọng của Kỳ Nhông
    Là một nghề mới đầy triển vọng
    Lợi ích kinh tế cao
    Giá trị dinh dưỡng cao
    Ứng dụng trong y học

    Thức ăn:

    Thức ăn chủ yếu của kỳ nhông là thực vật, lá cây, rau, quả, nụ hoa quả và chồi cây, ngoài ra chúng còn ăn trứng bọ cánh cứng, bướm và các côn trùng khác như sâu, giun...
    Nguồn thức ăn "bình dân" này rất dễ kiếm, dễ đáp ứng. Điều này, tạo ra công ăn việc làm cho một số hộ gia đình, đồng thời phòng tránh được sâu rầy phá hoại mùa màng...
    Chuồng nuôi, hồ nuôi
    Việc làm chuồng cho kỳ nhông nói riêng và côn trùng nói chung không hề đơn giản, mỗi loại thú đều có cách thiết kế riêng nhưng tựu trung lại là chuồng phải luôn có cây xanh, ánh nắng, hồ nước, cát… như môi trường tự nhiên.
    Hồ nuôi kỳ nhông được xây tường rào xung quanh cao 1,2m, bên trên có viền tô láng khoảng 30cm để kỳ nhông không bò ra ngoài. Đáy hồ được lót gạch, để chừa khe hở giữa các viên gạch từ 3-6cm cho nước rút, bên trên đổ cát dày 0,6- 0, 7m cho kỳ nhông làm tổ. Có thể trồng cây hoặc dựng chòi nhỏ bên trong tạo bóng mát nhưng phải cách tường rào hơn 1m để phòng chống kỳ nhông nhảy ra ngoài.
    Chăm sóc nuôi dưỡng:

    Chăm sóc nuôi dưỡng kỳ nhông rát đơn giản, chủ yếu canh giữ là chính, buổi sáng ra chợ xin hoặc mua rau, quả... về bỏ vào chuồng cho chúng ăn và phun nước tạo ẩm đất cát là xong.
    Kỳ nhông sống và làm tổ trên đất cát, từ khi còn nhỏ cho tới khi thành phẩm khoảng 8-10 tháng. Kỳ nhông ăn lá cây, rau, quả, nụ hoa quả và chồi cây, ngoài ra chúng còn ăn trứng bọ cánh cứng, bướm và các côn trùng khác như sâu, giun... uống nước ít, phân không đáng kể, môi trường sống tự nhiên không có dịch bệnh, ít tốn công chăm sóc.
    Nuôi kỳ nhông đơn giản, ít vốn, ít dịch bệnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao và an toàn dịch bệnh, trong khi công lao động không cần nhiều, thị trường đang hút hàng...
    Phòng trị bệnh:
    Kỳ nhông là loài bò sát có sức đề kháng rất tốt. Tuy nhiên cần lưu ý thường xuyên vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, thức ăn phải khô ráo không bị ẩm ướt.
    Thu hoạch:
    Lứa đầu từ khi thả giống tới lúc thu hoạch khoảng 6-7 tháng, trọng lượng đạt 0,5kg/con trở lên.
    Các món ăn được chế biến từ thịt nhông là những món rất ngon, lạ, hấp dẫn và là những món không thể thiếu trên bàn của dân "sành" nhậu.

    [IMG]













    [IMG]


    Kỳ nhông

    Kỳ đà


    Đặc tính[IMG]
    Giống và đặc điểm giống
    Kỳ đà thuộc lớp động vật bò sát, hình dáng bên ngoài trông giống như con thạch sùng (thằn lằn) nhưng to và dài hơn nhiều, có thể dài 2,5-3m, nặng khoảng 10kg. Đầu hình tam giác nhọn về phía mõm. Mắt có con ngươi thẳng đứng. Có hai chân trước và hai chân sau, mỗi chân có 5 ngón toè rộng, mặt dưới ngón có các nút bám để con vật dễ leo trèo. Màu sắc của con vật thay đổi theo màu sắc của môi trường sống để ngụy trang và săn bắt mồi.

    [IMG] Kỹ thuật nuôi[IMG]


    Tập tính sinh hoạt và môi trường sống:

    Môi trường sống của kỳ đà phong phú và đa dạng. Kỳ đà hoang dã có mặt ở hầu khắp các nước khí hậu nhiệt đới, nhất là những vùng rừng núi và thường sống trong những gốc cây, hốc đá, kẽ hở đất, đá… Ban ngày thường ngủ, nghỉ, ban đêm đi kiếm ăn. Kỳ đà thích ẩn mình trong các hang hốc, thích ngâm mình, săn mồi nơi sông suối giống như cá sấu.
    Thức ăn của kỳ đà là cóc nhái, gà vịt, tôm cá, thịt động vật loại nhỏ, trong chăn nuôi có thể dùng phụ phẩm để giảm chi phí.

    Sinh trưởng, phát triển và sinh sản:

    Kỳ đà sinh trưởng, phát triển mạnh sau mỗi lần lột xác (lột da). Sau mỗi lần lột da, nếu chăm sóc nuôi dưỡng tốt tốc độ tăng trưởng của kỳ đà có thể tăng lên 2-3 lần. Kỳ đà có thể lột da mỗi năm một lần vào khoảng tháng 8 đến tháng 10.
    Kỳ đà trưởng thành sau 18 tháng tuổi có thể dài 2,5 m, nặng 7-8 kg và bắt đầu đẻ trứng. Trong tự nhiên, kỳ đà đẻ trứng mỗi năm một lứa, mỗi lứa 15-17 trứng và chỉ khoảng 35% trứng có khả năng nở con. Nếu chúng ta tổ chức ấp trứng nhân tạo đảm bảo yêu cầu kỹ thuật thì tỷ lệ ấp nở có thể đạt 80-90%.
    2.Kỹ thuật nuôi:
    Chọn giống :
    Chọn những con to khỏe có kích thước trung bình trở lên. Cách nhận biết kỳ đà đực, kỳ đà cái bằng cách lật ngửa bụng con kỳ đà để quan sát gốc đuôi và lỗ huyệt:
    Kỳ đà đực: Gốc đuôi phồng to, lỗ huyệt lồi và có gờ, khi bóp vào gốc đuôi sẽ thấy gai giao cấu màu đỏ thẫm lồi ra ở lỗ huyệt.
    Kỳ đà cái: Đuôi thon nhỏ, lỗ huyệt nhỏ lép, khi bóp vào gốc đuôi không có gai giao cấu lồi ra.
    Thả giống: Thả giống vào chuồng lưới hay chuồng xi măng. Mỗi chuồng thả 1 con đực với 1 con cái hoặc 1 con đực với vài ba con cái.
    Chuồng trại:
    Chuồng nuôi kỳ đà cũng giống như chuồng nuôi cá sấu. Chuồng nuôi kỳ đà có thể là chuồng lưới hay chuồng xi măng, dài 3-4m, rộng 2-3m, cao 2-3m, xung quanh tô láng để kỳ đà không bám tường leo ra ngoài. Trong chuồng, có thể làm hang bê tông hoặc để sẵn một số ống cống phi 0,1-0,2m, dài trên 4m, đảm bảo môi trường thích hợp cho kỳ đà ẩn trú, nghỉ ngơi và phòng tránh nắng nóng… có hệ thống thoát nước hợp lý khi rửa chuồng hay xịt nước tắm cho kỳ đà. Vốn đầu tư chuồng trại nuôi kỳ đà thấp hơn nuôi cá sấu. Nếu có điều kiện nên trồng cây hay đặt cây cảnh để tạo cảnh quan và để tránh nắng cho kỳ đà.
    Thức ăn:
    Thức ăn của kỳ đà là sâu bọ, côn trùng như cào cào, châu chấu, chuồn chuồn, cánh cam, nhện, mối, gián, ong, bướm, cóc, ếch nhái, gà vịt, chim chóc hoặc có thể tập cho kỳ đà ăn trứng gia cầm, cua, tôm, cá hay thịt, lòng gia súc, gia cầm… Vào lúc chiều tối thả mồi côn trùng, sâu bọ hay chuột vào chuồng cho kỳ đà ăn. Mỗi con kỳ đà ăn khoảng 2-3 con chuột hay ếch nhái… là đủ bữa cho cả ngày. Tuy nhiên, trong chuồng đặt sẵn máng đựng thức ăn, nước uống cho kỳ đà ăn, uống tự do. Trong tự nhiên, kỳ đà là thành viên có ích cho con người tiêu diệt chuột, côn trùng và sâu bọ phá hoại mùa màng.
    Nuôi kỳ đà không những không tốn thức ăn đắt tiền mà còn tiêu diệt được chuột, côn trùng, sâu bọ phá hoại mùa màng và mang lại hiệu quả kinh tế cao.
    Chăm sóc nuôi dưỡng:
    Chăm sóc nuôi dưỡng kỳ đà giống như nuôi cá sấu. Kỳ đà vừa là nguồn thực phẩm, vừa là nguồn dược liệu quý hiếm, có giá trị kinh tế cao, nhưng hiện nay, trong thiên nhiên loài bò sát này đang ngày càng cạn kiệt và có nguy cơ tuyệt chủng. Kỳ đà có rất nhiều loài, có loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam. Chính vì vậy, việc phát triển nghề nuôi kỳ đà tại hộ gia đình là cần thiết và góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao.




    [IMG]


    Kỳ đà

    Các món ăn từ thịt Kỳ đà

    [IMG]

    Kỳ đà xào lăn



    [IMG]


    Xào xả ớt



    [IMG]


    Kỳ đà nướng



    [IMG]

    Kỳ đà nấu măng ăn với bún
  2. Mẹo: Mọi thắc mắc mua hàng bạn có thể hỏi trong ô bình luận Facebook bên dưới.

    Mỗi bình luận đồng thời sẽ up topic lên đầu (Nút up topic màu đỏ chỉ xuất hiện khi tài khoản đã chứng thực).